Day: May 26, 2018

 

Điều trị bệnh gout có rât nhiều hướng điều trị nhưng cách điều trị chủ yếu vẫn là thay đổi chế độ ăn uống và sử dụng thuốc là hiệu quả nhất. Nhiều người phân vân làm sao để chọn được loại thuốc hiệu quả nhất. Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu về thuốc Allopurinol – thuốc giúp điều trị bệnh gout hiệu quả.

Thuốc tốt điều trị bệnh gout
Thuốc tốt điều trị bệnh gout

 Thành phần chính của Zyloric : Allopurinol

  • Allopurinol 300mg làm giảm sự hình thành urat/acid uric trong những bệnh cảnh gây lắng đọng urat/acid uric (như viêm khớp do gút, sạn urat ở da, sỏi thận) hoặc nguy cơ lâm sàng có thể dự đoán trước (như việc điều trị khối u ác tính có khả năng dẫn đến bệnh thận cấp do acid uric).
  • Điều trị sỏi thận do 2,8-dihydroxyadenin (2,8-DHA) liên quan đến tình trạng thiếu hụt hoạt tính của adenin phosphoribosyltransferase.
  • Điều trị sỏi thận calci oxalat hỗn tạp tái phát gặp trong chứng tăng uric niệu khi chế độ ăn uống và các biện pháp tương tự thất bại.

Chống chỉ định:

  • Quá mẫn với allopurinol hoặc bất kỳ thành phần nào trong công thức.
  • Bệnh nhân bị bệnh gan, thận nặng (chứng tăng urê huyết).
  • Chứng nhiễm sắc tố sắt vô căn (ngay cả khi chỉ có tiền sử gia đình).
  • Không nên dùng allopurinol điều trị khởi đầu cơn gút cấp.
  • Chống chỉ định ở trẻ em ngoại trừ trẻ bị bệnh u bướu hoặc rối loạn men.

Tác dụng phụ:

  • Phản ứng phụ thường gặp nhất của allopurinol là phát ban da. Phát ban thường là ban sần hoặc ngứa, đôi khi là ban xuất huyết, nhưng có thể xảy ra phản ứng quá mẫn nguy hiểm hơn bao gồm phát ban tróc vảy, hội chứng Stevens-Johnson và hoại tử biểu bì độc tính. Vì thế khuyến cáo ngưng dùng allopurinol ngay khi xuất hiện phát ban.
  • Các triệu chứng khác của quá mẫn bao gồm sốt và ớn lạnh, bệnh u hạch bạch huyết, giảm bạch cầu hoặc tăng bạch cầu, tăng bạch cầu ưa acid, đau khớp và viêm mạch dẫn đến tổn thương thận và gan, rất hiếm gặp động kinh.
  • Các phản ứng quá mẫn này có thể nặng, thậm chí tử vong và người suy gan hoặc suy thận có nguy cơ đặc biệt. Độc tính gan và các dấu hiệu thay đổi chức năng gan cũng có thể thấy ở những bệnh nhân không thể hiện tình trạng quá mẫn.
  • Các ảnh hưởng về huyết học bao gồm giảm tiểu cầu, thiếu máu bất sản, mất bạch cầu hạt và thiếu máu tán huyết.
  • Nhiều tác dụng phụ khác hiếm gặp gồm dị cảm, bệnh thần kinh ngoại vi, rụng tóc, chứng vú to ở nam giới, tăng huyết áp, rối loạn vị giác, buồn nôn, nôn, đau bụng, tiêu chảy, đau đầu, khó chịu, hoa mắt, chóng mặt và rối loạn thị giác.
  • Bệnh nhân bị gút có thể bị gia tăng các cơn gút cấp khi bắt đầu điều trị với allopurinol dù các cơn gút này thường giảm sau nhiều tháng.

Phụ nữ có thai và cho con bú:

Phụ nữ có thai:

  • Chưa có bằng chứng đầy đủ về tính an toàn của allopurinol ở thai phụ, mặc dù thuốc được sử dụng rộng rãi nhiều năm mà không gây hậu quả xấu rõ ràng nào. Chỉ sử dụng thuốc ở thai phụ khi không có sự thay thế an toàn hơn và khi bản thân bệnh mang lại rủi ro cho người mẹ hoặc thai nhi.

Phụ nữ cho con bú:

  • Các báo cáo xác định allopurinol và oxipurinol được bài tiết vào sữa mẹ. Tuy nhiên, chưa có thông tin liên quan đến ảnh hưởng của allopurinol hoặc chất chuyển hóa của nó trên trẻ bú mẹ.

Ảnh hưởng trên khả năng lái xe và vận hành máy móc:

  • Do các phản ứng phụ như buồn ngủ, chóng mặt và mất điều hoà đã được báo cáo ở những bệnh nhân dùng allopurinol, người bệnh nên dùng thuốc thận trọng trước khi lái xe, vận hành máy móc hoặc tham gia những hoạt động nguy hiểm cho đến khi chắc chắn rằng allopurinol không gây ảnh hưởng bất lợi nào.

Liều lượng và cách dùng:

Zyloric có thể dùng đường uống một lần/ngày sau bữa ăn. Thuốc được dung nạp tốt, đặc biệt sau khi ăn. Liều dùng hàng ngày không nên vượt quá 300 mg và khi có biểu hiện không dung nạp qua đường tiêu hóa có thể chia thành những liều thích hợp.

Người lớn:

  • Zyloric nên được chỉ định ở liều thấp như 100 mg/ngày để giảm nguy cơ phản ứng phụ và chỉ tăng liều khi đáp ứng urat trong huyết thanh không thỏa đáng.
  • Nên sử dụng thận trọng hơn nếu chức năng thận bị suy giảm. Chế độ liều dùng được đề xuất như sau:
  • 100 – 200 mg/ngày nếu bệnh cảnh nhẹ.
  • 300 – 600 mg/ngày nếu bệnh cảnh nặng vừa phải.

 

Liều dựa trên trọng lượng cơ thể: 2-10 mg/kg/ngày.

 

Người cao tuổi:

Trong trường hợp chưa có dữ liệu cụ thể, nên sử dụng liều thấp nhất làm giảm urat thoả đáng.

Read Full Article

ĐẠI CƯƠNG

Cúm A là bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp cấp tính do virus cúm A gây nên. Bệnh có khả năng lây nhiễm rất cao và lây lan nhanh trong cộng đồng.

Bệnh lây truyền từ người sang người theo đường hô hấp, qua các giọt nước bọt hay dịch tiết mũi họng khi người bệnh ho, hắt hơi, hoặc lây qua tiếp xúc với một số đồ vật có chứa virus rồi qua bàn tay đưa lên mắt, mũi, miệng.

Người mang virus cúm A có khả năng truyền virus cho những người xung quanh trong thời gian 1 ngày trước tới 7 ngày sau, kể từ khi có triệu chứng của bệnh.

Bệnh lây lan càng mạnh, càng nhanh khi có sự tiếp xúc trực tiếp với người bệnh, đặc biệt ở nơi tập trung đông người như trường học, nhà trẻ, trung tâm thương mại… Hiện nay chưa có vacxin đặc hiệu phòng chống cúm A. Khi có vaccin, việc tiêm phòng bệnh phải tuân thủ theo hướng dẫn của cơ quan y tế.

 

BIỂU HIỆN LÂM SÀNG

Thời kỳ ủ bệnh

Thường từ 24 – 48 giờ, có thể kéo dài đến 3 ngày.

Thời kỳ khởi phát

Người bệnh thường có biểu hiện sốt cao đột ngột 39° – 40°

Đau đầu, đau nhức cơ toàn thân.

Mệt mỏi toàn thân.

Thời kỳ toàn phát

-Thời kỳ này có 3 biểu hiện chính:

Sốt cao liên tục 39 – 40° c.

Người bệnh có nhức đầu, đau bắp cơ toàn thân.

Triệu chứng hô hấp: viêm kết mạc mắt, chảy nước mắt, nước mũi, đau họng, đau thanh quản. Một số trường hợp có viêm phế quản, hay viêm phổi như ho, khó thở, khạc đờm. Trường hợp nặng có thể thấy khó thở tăng dần rồi diễn biến thành ARDS và suy đa tạng. Những trường họp nặng dẫn đến tử vong, trung bình 9-10 ngày sau khởi phát (cúm A H5N1).

Thời kỳ lui bệnh

Nếu không có biến chứng, phần lớn người bệnh hồi phục sau một tuần, tuy nhiên có những biểu hiện ho và mệt mỏi có thể kéo dài nhiều tuần.

BIẾN CHỨNG

Thường xảy ra ở những đối tượng nguy cơ cao như người cao tuổi, phụ nữ có thai, trẻ em, người có bệnh mạn tính, bệnh lưu niên.

Biến chứng phổi

Viêm phổi tiên phát do virus:ít gặp nhưng thường rất nặng, biểu hiện lâm sàng như sốt kéo dài, thở nhanh, tím tái, khạc đờm có máu, nghe phổi có ran, hoặc có biểu hiện viêm đường hô hấp cấp tính. X-quang phổi có hình ảnh thâm nhiễm mô kẽ lan tỏa.

Viêm phổi thứ phát do vi khuẩn: thường xảy ra sau giai đoạn cấp của cúm. Sau 2-3 ngày khỏi bệnh. Người bệnh có biểu hiện lâm sàng của nhiễm khuẩn phổi như sốt trở lại, ho, khạc đờm đục,… X-quang có hội chứng đông đặc.

Biến chứng phổi khác:

+ Viêm phế quản.

+ Áp xe phổi.

+ Tràn dịch màng phổi.

Biến chứng tim mạch

Thay đổi nhịp tim (xuất hiện trên người bệnh có bệnh nền tim mạch).

Viêm màng ngoài tim.

Biến chứng thần kinh

Hội chứng Guillain – Barre, viêm tủy cắt ngang, thường xảy ra sau nhiễm cúm A.

Viêm não.

Viêm cơ: đau nhức chi dưới, tăng creatinine.

Biến chứng về tai mũi họng

Viêm họng, amidal.

Viêm lợi.

Viêm xoang trán, xoang hàm.

Viêm tai giữa, viêm tai xương chũm.

Viêm thanh quản, bội nhiễm gây phù, loét, hoại tử có giả mạc.

Viêm tai mũi họng có thể lan sang vùng mặt gây viêm kết mạc mắt, viêm tuyến lệ.
hoa mắt chóng mặt nên uống thuốc gì

Read Full Article

Tai biến mạch máu não là bênh nguy hiểm.Ngoài việc điều trị bằng những phương pháp hiện đại thì người bệnh cần phải uống thuốc kèm theo để có hiệu quả hơn.

Thuốc điều trị tai biến mạch máu não tốt nhất ít ai ngờ

Thuốc chuyên điều trị tai biến mạch máu não
Thuốc chuyên điều trị tai biến mạch máu não

Những loại thuốc điều trị tai biến mạch máu não phổ biến trên thị trường

Bệnh tai biến giờ không còn là cái gì đó xa lạ, mà nó đã trở thành vấn nạn của xã hội. Nếu bạn để ý có thể thấy rằng có khoảng hơn 40% gia đình tại Việt Nam đều có người thân bị tai biến, và trong đó không ít trường hợp dã xảy ra tình trạng đột quỵ liệt nửa người.

Chính vì nhu cầu thuốc men trị tai biến là rất lớn nên dẫn đến hàng loạt các loại thuốc cũng ra đời. Có nhiều loại thuốc điều trị tai biến đến từ khắp nơi trên thế giới,

Bệnh liệt nửa người là gì? Có nguy hiểm không và có trị khỏi được không?

Liệt nửa người là tình trạng sức khỏe rất phổ biến và có thể ảnh hưởng đến bệnh nhân ở mọi lứa tuổi. Bệnh có thể được kiểm soát bằng cách giảm thiểu các nguy cơ gây bệnh. Hãy tham khảo bác sĩ để biết thêm thông tin chi tiết.

Liệt nửa người là triệu chứng của tai biến mạch máu não và các bệnh về não, làm gián đoạn quá trình vận chuyển máu đến não (đột quỵ thiếu máu cục bộ).
thuốc điều trị di chứng tai biến mạch máu não

Việc não bị chấn thương (tổn thương não) cũng là nguyên nhân gây ra liệt nửa người. Các nguyên nhân quan trọng khác nhưng ít cấp tính hơn bao gồm khối u hoặc tổn thương não, áp-xe não, bệnh phá hủy vỏ bọc xung quanh các tế bào thần kinh (ví dụ như bệnh đa xơ cứng), mạch biến chứng do nhiễm virus hoặc vi khuẩn (viêm màng não) và viêm não. Khi bị liệt nửa người, vùng tổn thương thường nằm ở bên não đối diện với phần bị tê liệt. Trong một vài trường hợp hiếm, bệnh truyền nhiễm do poliovirus (virus bại liệt) hoặc rối loạn các tế bào thần kinh vận động (neuron) trong tủy sống, thân não và vỏ não vận động cũng gây ra tình trạng này.

Yếu tố gây tăng nguy cơ liệt nửa người cần lưu ý

Có rất nhiều yếu tố gây liệt nửa người như:

Tăng huyết áp; Bệnh tim mạch; Đột quỵ; Chấn thương khi sinh, chuyển dạ khó khăn, đột quỵ chu sinh ở thai nhi trong vòng 3 ngày; Tổn thương đầu khi chấn thương; Đau nữa đầu; Bệnh tiểu đường; Bệnh U não;

Nhiễm trùng, cụ thể là viêm não và viêm màng não. Một số bệnh nhiễm trùng nghiêm trọng, đặc biệt là nhiễm trùng huyết và áp-xe cổ, có thể lan đến não nếu không có điều trị; Bệnh loạn dưỡng chất trắng não; Viêm mạch máu. Trong đó tai biến liệt nửa người do Tai biến mạch máu não mang đến, người bệnh có thể điều trị được bằng những phương pháp chữa bệnh bằng Đông Y.

Dinh dưỡng cho bệnh nhân chấn thương sọ não

Dù là bất cứ nguyên nhân nào thì sau khi bị chấn thương não, nạn nhân phải đối diện với những thử thách to lớn để hồi phục các chức năng của cơ thể. Trong đó chế độ dinh dưỡng, chế độ sinh hoạt đóng vai trò quan trọng giúp bệnh nhân nhanh chóng hồi phục và hòa nhập cộng đồng hơn.

Chế độ dinh dưỡng đóng vai trò vô cùng quan trọng cho bệnh nhân ngay sau khi chấn thương cũng như suốt khoảng thời gian còn lại của họ. Tuy nhiên khi chăm sóc bệnh nhân, các loại chất dinh dưỡng, kích cỡ và cách thức chuyển vào cơ thể cần được tham khảo và chỉ định bởi các bác sĩ, chuyên gia y tế.

Read Full Article

Ho là một phản xạ của cơ thể nhằm làm sạch đường thở, không bị ứ đọng các chất dịch tiết, chất kích thích, vật lạ, vi khuẩn…

Ho là một phản xạ của cơ thể nhằm làm sạch đường thở, không bị ứ đọng các chất dịch tiết, chất kích thích, vật lạ, vi khuẩn… Đây là một cơ chế để bảo vệ tốt bộ máy hô hấp. Tuy nhiên, nếu ho ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày thì cần thiết phải dùng thuốc điều trị ho.

Những lưu lý khi dùng thuốc trị ho

Thuốc tác dụng trên đờm: Là tất cả các thuốc làm thay đổi đặc tính, tính chất, số lượng và độ bám dính của đờm trên bề mặt đường thở. Thông thường trên đường thở lúc nào cũng có một lớp nhầy, có độ dính, độ ẩm và số lượng vừa phải để bảo vệ đường hô hấp. Nhưng khi hệ hô hấp bị bệnh lý thì lớp nhầy này bị thay đổi tính chất, trở nên bám dính, đặc quánh và khi đó nó được gọi là đờm. Các thuốc tác dụng trên đờm bao gồm thuốc làm loãng đờm, thuốc hóa giáng đờm.

Hình ảnh tư vấn của bác sỹ
Hình ảnh tư vấn của bác sỹ

Thuốc làm loãng đờm là những thuốc làm tăng sự tiết dịch (chủ yếu là nước) trên bề mặt đường hô hấp. Sự tăng tiết này làm đờm có thêm nước hòa tan nên sẽ làm tăng khối lượng đờm, tăng thể tích đờm, đờm trở nên lỏng ra. Thuốc điển hình trong nhóm này là guaifenesin, natribenzoat, terpinhydrat… Thuốc hóa giáng đờm là những thuốc tác dụng trực tiếp vào đờm, làm cho đờm bớt đặc, dễ bị thải bỏ ra ngoài nhờ phản xạ ho… đó là là những thuốc: acetylcystein, ambroxol, carbocistein, bromhexin…

Thuốc tác dụng trên đờm chỉ thực sự phát huy tác dụng khi dùng thuốc đó với nước. Thuốc sẽ không đạt hiệu quả tối đa nếu không uống nước nhiều và đầy đủ. Nước là một chất trực tiếp làm tăng dịch tiết trong đờm, tăng độ loãng cho đờm. Thường phải uống ít nhất 1,5 lít nước/ngày với một người trưởng thành.

Thuốc giảm ho: Thuốc có tác dụng giảm ho do ức chế trung tâm gây ho như codein, pholcodin, dextromethorphan. Trong đó, codein và pholcodin có tác dụng gây nghiện, giảm đau và ức chế nhẹ trung tâm hô hấp. Dextromethorphan không gây nghiện, không có tác dụng giảm đau.

Những thuốc trị ho có chứa codein chỉ dành cho người lớn, không dùng cho trẻ em vì gây ức chế hô hấp. Đặc biệt, những thuốc trị ho có chứa codein chống chỉ định cho trẻ dưới 18 tuổi vừa được cắt và/hoặc nạo V.A (dùng để giảm đau). Các thuốc giảm ho trên chỉ dùng trong trường hợp ho khan không có đờm (ho do cảm cúm, ho do kích ứng, dị ứng), ho nhiều làm người bệnh mệt mỏi, mất ngủ, không dùng trong trường hợp ho có đờm (trong bệnh viêm phế quản mạn, giãn phế quản); không dùng cho người suy hô hấp, hen suyễn, trẻ em, phụ nữ có thai và cho con bú.

Thuốc kháng histamin: Một số thuốc kháng histamin chống dị ứng (kháng histamin H1 thế hệ 1) đồng thời có tác dụng làm dịu, giảm ho và an thần như diphenylhydramin, chlopheniramin, alimemazine, promethazine. Thuốc được điều trị các chứng ho khan do dị ứng, kích ứng. Nhược điểm chính của các thuốc này là gây buồn ngủ do tác động trên các thụ thể H1 ở não vì vậy bất lợi khi dùng thuốc ban ngày nhưng thuận lợi khi dùng về đêm và không được dùng thuốc khi lái xe, lái máy bay, vận hành máy móc… Loại thuốc này cũng có tác dụng làm khô đặc dịch tiết, khó tống đờm, có thể gây ra cục đờm tắc nghẽn vì vậy không nên dùng trong trường hợp ho có đờm, người hen suyễn.

>>Xem thêm: Tác dụng của thuốc soscough

Read Full Article